Tin tức & Sự kiện

Dự án mới

Dự án mới [ Xem tất cả dự án ]

Đất Nền Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn Năng lực cạnh tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Năng lực cạnh tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 30 tháng 9, 2011

Năng lực cạnh tranh quốc gia 2011 2012 - Đâu là điểm mạnh của Việt Nam?

0 nhận xét
Theo Lương Gia Cường (2003, Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nhà xuất bản Giao thông vận tải): Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân.
 
Khảo sát trên 13.000 lãnh đạo doanh nghiệp từ 142 nền kinh tế đặc trưng, Báo cáo năng lực cạnh tranh toàn cầu 2011 – 2012 tiếp tục là một trong những đánh giá kinh tế vi mô và vĩ mô toàn diện uy tính nhất trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu ngày càng diễn biến phức tạp. Trong năm 2011, Việt Nam đứng hạng 65/142 với số điểm 4.24

GCI (Global Competitiveness Index) Việt Nam so với một số nước:

Nền kinh tế
Xếp hạng
Điểm số
Thụy Sỹ
1
5.74
Singapore
2
5.63
Nhật Bản
9
5.40
Đài Loan
13
5.26
Malaysia
21
5.08
Trung Quốc
26
4.90
Thái Lan
39
4.25
Indonesia
46
4.38
Việt Nam
65
4.24
Philippin
75
4.08

GCI Việt Nam từ giai đoạn 2006 - 2011:

Năm
2011
2010
2009
2008
2007
2006
Hạng
65
59
75
70
68
77
Điểm số
4.24
4.27
4.03
4.10
4.04
3.89
Tổng số nền kinh tế
142
139
133
134
131
125
(Nguồn: Diễn đàn Kinh tế thế giới 2011)

Nhìn vào hai bảng bên bạn có nghĩ gì về năng lực cạnh tranh của Việt Nam?

Năng lực cạnh tranh quốc gia được xác định bởi 3 nhóm sau:
Nhóm chỉ số điều kiện cơ bản - Basic Requirements (A)
Nhóm chỉ số nâng cao hiệu quả - Efficiency enhancers (B)
Nhóm chỉ số về sư đổi mới và phát triển của các nhân tố - Innovation and sophistication factors (C)

Trong đó:
A gồm:
1.      Thể chế
2.      Kết cấu hạ tầng
3.      Môi trường kinh tế vĩ mô
4.      Y tế và giáo dục tiểu học
B gồm:
5.      Đào tạo và giáo dục bậc đại học
6.      Hiệu quả thị trường hàng hóa
7.      Thị trường lao động: tính linh hoạt và năng suất
8.      Sự phát triển thị trường tài chính
9.      Sự sẵn sàng công nghệ
10.  Quy mô thị trường
C gồm:
11.  Sự tinh tế của kinh doanh
12.  Đổi mới

Bạn thử đoán xem một hay hai nhân tố nào là điểm mạnh của Việt Nam?

Hãy xem bảng sau:
Nhân tố
Xếp hạng
Điểm số
Thể chế
87
3.63
Kết cấu hạ tầng
90
3.59
Môi trường kt vĩ mô
65
4.78
Y tế và giáo dục tiểu học
73
5.66
Nhóm A
76
4.41
Đào tạo và giáo dục bậc đại học
103
3.47
Hiệu quả thị trường hàng hóa
75
4.16
Hiệu quả thị trường lao động
46
4.60
Sự phát triển thị trường tài chính
73
4.00
Sự sẵn sàng công nghệ
79
3.51
Quy mô thị trường
33
4.59
Nhóm B
66
4.05
Sự tinh tế của kinh doanh
87
3.72
Đổi mới
66
3.16
Nhóm C
75
3.44
(Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới 2011)



Năng lực cạnh tranh quốc gia 2011 2012 - Đâu là điểm mạnh của Việt Nam?

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là gì?

0 nhận xét
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là gì?
Khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đến nay vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất. Dưới đây là một số cách tiếp cận cụ thể về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp đáng chú ý.

Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp. Đây là cách quan niệm khá phổ biến hiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so với đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp. Cách quan niệm này có thể gặp trong các công trình nghiên cứu của Mehra (1998), Ramasamy (1995), Buckley (1991), Schealbach (1989) hay ở trong nước như của CIEM (Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế). Cách quan niệm như vậy tương đồng với cách tiếp cận thương mại truyền thống đã nêu trên. Hạn chế trong cách quan niệm này là chưa bao hàm các phương thức, chưa phản ánh một cách bao quát năng lực kinh doanh của doanh nghiệp.

Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hàng hóa và dịch vụ trên thị trường thế giới. Ủy ban Quốc gia về Hợp tác Kinh tế Quốc tế (CIEM) cho rằng: năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Quan niệm về năng lực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, hkó có thể định lượng.

Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Theo M. Porter (1990), năng suất lao động là thức đo duy nhất về năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp.

Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh. Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm cho rằng: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu cũng có ý kiến tương tự: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.


Ngoài ra, không ít ý kiến đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với năng lực kinh doanh. Như vậy, cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn chưa được hiểu thống nhất. Để có thể đưa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lưu ý thêm một số vấn đề sau đây.

Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ. Chẳng hạn, trong nền kinh tế thị trường tự do trước đây, cạnh tranh chủ yếu trong lĩnh vực bán hàng và năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với việc bán được nhiều hàng hóa hơn đối thủ cạnh tranh; trong điều kiện thị trường cạnh tranh hjoàn hảo, cạnh tranh trên cơ sở tối đa háo số lượng hàng hóa nên năng lực cạnh tranh thể hiện ở thị phần; còn trong điều kiện kinh tế tri thức hiện nay, cạnh tranh đồng nghĩa với mở rộng “không gian sinh tồn”, doanh nghiệp phải cạnh tranh không gian, cạnh tranh thị trường, cạnh tranh tư bản và do vậy quan niệm về năng lực cạnh tranh cũng phải phù hợp với điều kiện mới.

Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng tranh đua, tranh giành về các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới.

Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện được phương thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phương thức truyền thống và cả những phương thức hiện đại – không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế.

Từ những yêu cầu trên, có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững.

Theo TS. Nguyễn Minh Tuấn (2010), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước trong hội nhập kinh tế quốc tế, nhà xuất bản ĐH Quốc gia TP. HCM.

Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là gì?

Thứ Bảy, 27 tháng 8, 2011

Năng lực cạnh tranh của quốc gia là gì?

0 nhận xét
Theo Lương Gia Cường (2003, Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, nhà xuất bản Giao thông vận tải): Năng lực cạnh tranh quốc gia được định nghĩa là năng lực của một nền kinh tế đạt được tăng trưởng bền vững, thu hút được đầu tư, đảm bảo ổn định được kinh tế xã hội, nâng cao đời sống của người dân.

Năng lực cạnh tranh của quốc gia là gì?

Hỗ trợ online

Kinh doanh 1

0935.194.194


Kinh doanh 2

0963.819.625