Tin tức & Sự kiện

Dự án mới

Dự án mới [ Xem tất cả dự án ]

Đất Nền Mới

Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế vĩ mô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tế vĩ mô. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 7, 2011

Kinh tế học : Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống kinh tế xã hội?

0 nhận xét
Lạm phát (inflation) có ảnh hưởng nhất định nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội tùy theo mức độ của nó. 

Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh những tác hại không đáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm phát gây ra những tác hại nghiêm trọng đối với kinh tế và đời sống. Tác động của lạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát đó có dự đoán trước được hay không, nghĩa là công chúng và các thể chế có tiên tri được mức độ lạm phát hay sự thay đổi mức độ lạm phát là một điều bất ngờ. Nếu như lạm phát hoàn toàn có thể dự đoán trước được thì lạm phát không gây nên gánh nặng kinh tế lớn bởi người ta có thể có những giải pháp để thích nghi với nó. Lạm phát không dự đoán trước được sẽ dẫn đến những đầu tư sai lầm và phân phối lại thu nhập một cách ngẫu nhiên làm mất tinh thần và sinh lực của nền kinh tế.

Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống kinh tế xã hội
 Tác động phân phối lại thu nhập và của cải
Tác động chính của lạm phát về mặt phân phối phát sinh từ những loại khác nhau trong các loại tài sản và nợ nần của nhân dân. Khi lạm phát xảy ra, những  ngươi có tài sản, những người đang vay nợ là có lợi vì giá cả của các loại tài sản nói chung đều tăng lên, con giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Ngược lại, những người làm công ăn lương, những người gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại.
Để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra cách thức giải quyết đơn giản là lãi suất cần được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát. Ví dụ, lãi suất thực la3%, tỷ lệ tăng giá là 9%, thì lãi suất danh nghĩa là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh cho lãi suất phù hợp tỷ lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được trong điều lạm phát ở mức độ thấp.

Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm
Trong điều kiện nền kinh tế chưa dạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải thúc đẩy sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu thông, cung cấp thêm vốn cho các đơn vị sản suất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng của chính phủ và nhân dân.
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tăng lên thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi thất nghiệp giảm xuống thì lạm phát tăng lên. Nhà linh tế học A.W. Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát và việc làm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp tháp hơn nếu sẵn sàng trả giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn.

Các tác động khác
Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán được, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những khu vực hàng hóa có giá cả tăng lên cao, nhưng ngành sản suất có chu kỳ ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản suất có chu kỳ dài, thời gian thu hồi vốn chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro. Trong lĩnh vực lưu thông, khi vật giá tăng quá nhanh thì tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hóa thường là hiện tượng phổ biến, gây nên mất cân đối giả tạo làm cho lưu thông càng thêm rối loạn. Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi, lạm phát xảy ra lam tăng tỷ giá hối đoái.  Sự mất giá của tiền trong nước so với ngoại tệ tạo điều kiện tăng cường tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu, tuy nhiên nó gây bất lợi cho hoạt động nhập khẩu. Lạm phát cao và siêu lạm phát làm cho hoạt động của hệ thống tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng. Nguồn tiền trong xã hội bị sụt giảm nhanh chóng,nhiều ngân hàng bị phá sản vì mất khả năng thanh toán, lam phát phát triển nhanh, biểu giá thường xuyên thay đổi làm cho lượng thông tin được bao hàm trong giá cả bị phá hủy, các tính toán kinh tế bị sai lệch nhiều theo thời gian, từ đó gây khó khăn cho các hoạt động đầu tư. Lạm phát gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước bằng việc bào mòn giá trị thực của những khoản công phí.ngoài ra lạm phát cao kéo dài và không dự đoán trước được làm cho nguồn thu ngân sách nhà nước bị giảm do sản xuất bị suy thoái. Tuy nhiên, lạm phát cũng có tác động làm gia tăng số thuế nhà nước thu được trong những trường hợp nhất định. Nếu hệ thống thuế tăng dần (thuế suất lũy tiến) thì tỷ lệ lạm phát cao hơn sẽ đẩy người ta nhanh hơn sang nhóm phải đóng thuế cao hơn, và như vậy chính phủ có thể thu được nhiều thuế hơn mà không phải thông qua luật. Trong thời kỳ lạm phát giá cả hàng hóa – dịch vụ tăng lên một cách vững chắc, bên cạnh đó tiền lương danh nghĩa cũng theo xu hướng tăng lên, vì vậy thu nhập thực tế của người lao động nói chung có thể vững hoặc tăng lên, hoặc giảm đi chứ không phải bao giờ cũng suy giảm.

Như vậy lạm phát đã ảnh hưởng đến mọi mặt trong đời sống kinh tế - xã hội và nhà nước phải áp dụng những biện pháp thích hợp để kiềm chế, kiểm soát lạm phát.

Theo PGS-TS. Sử Đình Thành, TS. Vũ Thị Minh Hằng, Gs-TS. Dương Thị Bình Minh, Ths. Phạm Văn Hiếu, Ths. Nguyễn Anh Tuấn, TS. Bùi Thị Mai Hoài, TS. Diệp Gia Luật. 2008. Nhập môn tài chính tiền tệ. Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội. Hà Nội.

Kinh tế học : Lạm phát có ảnh hưởng như thế nào đến đời sống kinh tế xã hội?

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

Kinh tế học : Nguyên nhân gây ra lạm phát theo quan điểm các nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ

0 nhận xét
Khi đề cập mối quan hệ giữa tiền tệ và lạm phát, Friedman cho rằng “lạm phát luôn luôn và bất cứ ở đâu đều là hiện tượng tiền tệ” (Inflation is always and everywhere a monetary phenomenon). Khi đó lạm phát được định nghĩa là một sự tăng giá nhanh và liên tục. Hầu hết các nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ, hoặc trường phái Keynes cũng đồng ý với nhận định của Friedman.

Quan điểm các nhà thuộc trường phái tiền tệ:
Trước hết, bằng việc sử dụng phân tích của các nhà kinh tế tiền tệ, chúng ta hãy xem kết quả gia tăng cung tiền tệ liên tục được minh họa ở bên dưới.
Phản ứng giá cả đối với sự gia tăng tiền tệ liên tục
 Khởi đầu nền kinh tế cân bằng ở điểm 1 (giao giữa AD1 và AS1). Nếu cung tiền gia tăng qua mỗi năm, làm cho tổng cầu dịch chuyển sang phải đến AD2. Khi đó nền kinh tế tiến đến cân bằng ở điểm 1’ với đặc điểm: sản lượng gia tăng, thất nghiệp giảm.Thế nhưng, với sự mở rộng sản xuất đến lượt nó sẽ làm gia tăng chi phí. Và đường AD2 sẽ lập tức di chuyển qua trái, cắt đường AS2 tạo ra điểm cân bằng mới ở điểm 2, với mức giá gia tăng từ P1>P2. Cứ như vậy, nếu cung tiền cứ gia tăng thì mức giá gia tăng và lạm phát xảy ra. Nghĩa là M tăng lên à P tăng lên. Trong phân tích cùa các nhà kinh tế tiền tệ, cung tiền được xem như là nguồn duy nhất làm dịch chuyển đường cầu AD, không có yếu tố khác làm di chuyển nền kinh tế từ điểm 1 đến 2 và 3 và hơn nữa. 

Theo PGS-TS. Sử Đình Thành, TS. Vũ Thị Minh Hằng, Gs-TS. Dương Thị Bình Minh, Ths. Phạm Văn Hiếu, Ths. Nguyễn Anh Tuấn, TS. Bùi Thị Mai Hoài, TS. Diệp Gia Luật. 2008. Nhập môn tài chính tiền tệ. Nhà xuất bản Lao Động Xã Hội. Hà Nội.

Kinh tế học : Nguyên nhân gây ra lạm phát theo quan điểm các nhà kinh tế thuộc trường phái tiền tệ 

Thứ Ba, 21 tháng 6, 2011

Kinh tế học : Các thị trường mới nổi thứ hai CIVETS được hiểu là gì?

0 nhận xét
Có thể bạn sẽ nhầm từ “civets = civet cat” (mèo hương)!

 Khi các nước nhóm họp lại với nhau, vì một mục đích kinh tế hay chính trị nào đó, thì thường họ sẽ có một tên gọi tắt.
Tương tự như BRICs (một thuật ngữ do Goldman Sachs đề xuất năm 2003 để chỉ các thị trường mới nổi: Brazil, Russia, India, China), CIVETS là viết tắt của nhóm các thị trường mới nổi thứ hai gồm Colombia, Indonesia, Vietnam, Egypt (Ai cập), Turkey (Thổ nhĩ kỳ) và South Africa (Nam Mỹ).

 Điểm chung của CIVETS là dân số trẻ và đông, chính trị tương đối ổn định, nền kinh tế đa dạng, hệ thống tài chính khá tốt, và đặc biệt là không bị lạm phát cao, mất cân bằng thương mại và nợ công đe dọa.

Các thị trường mới nổi thứ hai CIVETS


Năm 2010 Dân số   (triệu người) GDP/người     (USD, PPP) CPI   (%) Cán cân ngân sách (%GDP)
Colombia 46.9 8,920 2.6 -3.9
Indonesia 243.0 4,230 5.1 -2.2
Việt Nam 87.8 3,150 9.3 -7.7
Ai Cập 84.7 5,910 11.8 -8.7
Thổ Nhĩ Kỳ 73.3 12,740 8.7 -4.5
Nam Phi 49.1 12,730 5.8 -6.3
 (Nguồn: Economist Intelligence Unit, Country Data)

Vài nét sơ lược:

Colombia
Colombia được biết đến từ những chính sách của cựu tổng thống Alvaro Uribe năm năm trước đó.
Những chính sách của ông đã khuyến khích các công ty tham gia và phát triển nguồn dầu của Colombia. Những đồng đôla tạo ra lại tiếp tục được tái đầu tư cơ sở hạ tầng cho đất nước và tạo công ăn việc làm.

Indonesia
Indonesia có lợi thế từ nhân khẩu, với hơn một nửa dân số là 25 tuổi và thấp hơn, chi phí lao động thấp nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương, theo JP Morgan. Từ năm 2006 – 2009, GDP theo đầu người tăng 11% /năm, điều quan trọng là sự tăng trưởng này là do khu vực tư nhân, chứ không phải do chi tiêu chính phủ.


Indonesia có mức lương thấp nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương
 Việt Nam
Thu nhập bình quân đầu người năm 2009 là 1.064 $ gần gấp 5 lần so với giữa những năm 1990. Ngoài ra, đầu tư ròng về vàng (net retail gold investment) tại Việt Nam, theo Hiệp hội vàng thế giới, vượt quá 500.000 ounces trong quý đầu năm 2010 và tăng 20% nhu cầu vàng trang sức.

Thổ Nhĩ Kỳ
Thổ Nhĩ Kỳ là một nền kinh tế năng động và luôn hướng đến phát triển bền vững.
Là nền kinh tế lớn thứ 6 châu Âu và top 20 toàn thế giới, GDP 2009 là 615 tỷ USD. Kết thúc tháng 3/2010, lạm phát đã giảm 6,1 % so với năm ngoái (xuống còn 1 con số) và nợ công thấp hơn 40% GDP. 
Trong tình hình biến động kinh tế ở châu Âu (thị trường châu Âu chiếm hơn nửa giá trị xuất khẩu của Thổ Nhĩ Kỳ), chính phủ đã tăng hoạt động giao thương đến các đối tác từ Trung Đông - Ả Rập Saudi, Iraq, Ai Cập.

Xem thêm về thị trường mới nổi (emerging markets) tại: www.usfunds.com/interactive/whats-driving-emerging-markets/?CFID=3579219&CFTOKEN=73297715

 Kinh tế học : Các thị trường mới nổi thứ hai CIVETS được hiểu là gì?

Thứ Tư, 13 tháng 4, 2011

Kinh tế học : BOP trong kinh tế là gì ?

0 nhận xét

Cán cân thanh toán (Balance of Payments BOP) là tài khoản cung cấp thông tin về các giao dịch xuyên biên giới của một quốc gia.


Một báo cáo BOP thông thường bao gồm ít nhất các khoản mục theo dòng như sau (hay một vài biến thể của chúng):
1.     Tài khoản vãng lai (Current account)
§  Cán cân thương mại hàng hóa và dịch vụ (Balance on trade in goods and services)
§  Thu nhập ròng (Net income)
§  Chuyển nhượng đơn phương ròng (Net unilateral transfers)
2.     Tài khoản vốn và tài chính (Capital and financial account)
§  Tài khoản vốn ròng (Net capital account)
§  Tài khoản tài chính (Net financial account)
+       Đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng (Net foreign direct investment)
+       Các dòng đầu tư gián tiếp ròng (Net portfolio flows)
+       Các dòng vốn khác, ròng (Other capital flows, net)
+       Thay đổi dự trữ chính thức (Change in official reserves)
§  Sai và sót (Errors and Omissons)

Theo David A. Moss (2007), Hướng dẫn tóm tắt về Kinh tế học vĩ mô, được dịch bởi Châu Văn Thành (2010), Bài giảng Kinh tế vĩ mô II, trường ĐH Kinh tế TP HCM.

 Kinh tế học : BOP trong kinh tế là gì ?

Kinh tế học : Tại sao cần nghiên cứu kinh tế vĩ mô ?

0 nhận xét

Để đánh giá đúng tầm quan trọng của kinh tế vĩ mô, bạn chỉ cần đọc báo và nghe đài. Các phương tiện truyền thông đại chúng hàng ngày thông tin về chiều hướng phát triển của nền kinh tế. Những tiêu đề in đậm trên trang nhất như THU NHẬP CÁ NHÂN TĂNG BỐN PHẦN TRĂM, QUỸ DỰ TRỮ LIÊN BANG CHUYỂN SANG CHỐNG LẠM PHÁT, hoặc CỔ PHIẾU GIẢM DO MỌI NGƯỜI LO SỢ TÌNH TRẠNG SUY THOÁI... hầu như không ngày nào không xuất hiện trên báo chí.

Tất cả các biến số kinh tế vĩ mô đều đụng chạm đến cuộc sống của chúng ta. Khi dự báo nhu cầu sản phẩm của chính mình, hội đồng quản trị ở các doanh nghiệp phải đoán xem thu nhập của người tiêu dùng tăng nhanh đến mức nào. Người già sống bằng thu nhập cố định thường băn khoăn về tốc độ tăng giá. Những công nhân thất nghiệp đang tìm kiếm việc làm hi vọng nền kinh tế phục hồi và các doanh nghiệp tuyển thêm người. Tất cả chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi thực trạng của nền kinh tế.


 Điều dễ hiểu là biến cố kinh tế vĩ mô đóng vai trò trung tâm trong các cuộc tranh luận chính trị. Vào những năm 70, tổng thống Nixon, Ford, Carter, tất cả đều vật lộn một cách vô vọng với tình hình lạm phát ngày càng leo thang. Năm 1993, tổng thống Clinton chuyển đến văn phòng bầu dục với lời cam kết cắt giảm thâm hụt ngân sách và thúc đầy tăng trường kinh tế. Uy tính của vị tổng thống đương nhiệm tăng trong giai đoạn phục hồi kinh tế và giảm trong thời kỳ suy thoái. Cử tri hiểu rõ ý nghĩa của các biến cố kinh tế vĩ mô, còn các nhà chính trị ý thức rõ tầm quan trọng của chính sách kinh tế vĩ mô.

Ảnh hưởng của các biến cố kinh tế đối với chính trị biểu hiện rõ nét nhất trong những cuộc bầu cử tổng thống. Chính sách kinh tế là chủ đề hàng đầu trong cuộc tranh luận giữa các ứng cử viên và thực trạng của nền kinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ tới kết quả bầu cử. Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1992, chiến lược gia chủ yếu của Clinton muốn hướng cuộc vận động tranh cử vào một vấn đề then chốt. Trong phòng làm viêc của mình, ông vung tay lên như muốn nói: “Nền kinh tế ư, thật ngu xuẩn!”.
Các sự kiện kinh tế cũng đóng vai trò chủ đạo trong mối quan hệ quốc tế. Vào những năm 50 và 60, hầu hết các nước công nghiệp đều duy trì tỷ giá hối đoái cố định giữa đồng tiền của họ với nhau và với đồng tiền của các nước khác. Hệ thống tỷ giá hối đoái này sụp đổ vào những năm 70 và thời đại mới của chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt, biến động mạnh bắt đầu. Trong những năm 80 và 90, nước Mỹ nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu và thanh toán cho số hàng nhập khẩu dôi ra này bằng cách vay rất nhiều trên thị trường tai tài chính thế giới. Những xu hướng kinh tế quốc tế như vậy thường là nguồn gốc gây căng thẳng, ngay cả giữa những đồng minh thân cận nhất.

Các nhà kinh tế vĩ mô là những nhà khoa học tìm cách lý giải hoạt động của nền kinh tế với tư cách một tổng thể. Họ thu thập số liệu về thu nhập, giá cả và nhiều biến số kinh tế khác từ các thời kỳ và quốc gia khác nhau. Sau đó họ tìm cách xây dựng những lý thuyết tổng quát, góp phần giải thích các số liệu này.

Cũng giống như nhà thiên văn nghiên cứu quá trình tiến hóa của các vì sao và nhà sinh vật nghiên cứu quá trình tiến hóa của các loài, nhà kinh tế vĩ mô không thể tiến hành cá thực nghiệm có kiểm soát - thực nghiệm với nền kinh tế là một việc làm quá tốn kém. Thay vào đó, họ dựa trên những thực nghiệm tự nhiên. Các nhà kinh tế vĩ mô quan sát thấy rằng các nền kinh tế có nhiều nét khác nhau và chúng dều thay dổi theo thời gian. Kết quả quan sát vừa tạo ra động lực để phát triển các lí thuyết kinh tế vĩ mô, vừa cung cấp số liệu để kiểm định chúng.

Chắc chắn kinh tế vĩ mô là một ngành khoa học non trẻ và chưa hoàn chỉnh. Khả năng dự báo của các kinh tế vĩ mô về đường hướng phát triển tương lai của các sự kiện kinh tế chưa vượt quá khả năng của các nhà khí tượng khi họ dự báo về thời tiết tháng tới. Song, như các bạn sẽ thấy, chúng ta biết khá nhiều về phương thức hoạt động của nền kinh tế.

Mục tiêu của chúng ta trong việc nghiên cứu kinh tế vĩ mô không phải chỉ dừng lại ở phạm vi lí giải các biến cố kinh tế, mà còn nhằm cải thiện chất lượng của chính sách kinh tế. Các công cụ tài chính và tiền tệ của chính phủ có thể tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế - bao gồm cả mặt tích cực và tiêu cực – và khoa kinh tế vĩ mô giúp cho các nhà hoạch định chính sách đánh giá những chính sách khác nhau. Nhà kinh tế vĩ mô phải nghiên cứu nền kinh tế như nó đang tồn tại và suy ngẫm xem chúng ta nên làm gì để cải thiện nó.

Theo N. Gregory Mankiw, Kinh tế vĩ mô, bản dịch tiếng Việt, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội.

Kinh tế học : Tại sao phải nghiên cứu kinh tế vĩ mô ?

Thứ Ba, 12 tháng 4, 2011

Kinh tế học : Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (nominal exchange rate) là gì?

0 nhận xét
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (nominal exchange rate) là giá tương đối của đồng tiền của hai nước.
Tỷ giá hối đoái thực (real exchange rate) hay còn được gọi là tỷ giá ngoại thương là giá tương đối của hàng hóa của hai nước. Tỷ giá này cho biết tỷ lệ mà tại đó chúng ta có thể trao đổi hàng hóa của một nước này với hàng hóa của một nước khác nước khác.

Kinh tế học : Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (nominal exchange rate) là gì?

Kinh tế học : Vai trò của kinh tế vi mô trong kinh tế vĩ mô

0 nhận xét


Kinh tế vi mô, một bộ phận nghiên cứu nền kinh tế trong phạm vi nhỏ, nghiên cứu hành vi của những đơn vị cá biệt trong nền kinh tế. Kinh tế vi mô nghiên cứu phương thức ra quyết định của các hộ gia đình và doanh nghiệp, cũng như tác động qua lại giữa họ trên thị trường. Nguyên tắc cơ bản nhất của kinh tế vi mô là các hộ gia đình và doanh nghiệp ‘tối ưu hóa’ tức họ tìm cách hành động hợp lý đến mức cho phép để đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện phải đối phó với những giới hạn nhất định. Trong mô hình kinh tế vi mô, các hộ gia đình ra quyết định mua hàng sao cho tối đa hóa được mức độ thỏa mãn của mình – điều mà các nhà kinh tế gọi là lợi ích – và các doanh nghiệp đưa ra quyết định sản xuất nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Vì các biến cố kinh tế mà các nhà kinh tế vĩ mô nghiên cứu phát sinh từ tác động qua lại giữa nhiều hộ gia đình và doanh nghiệp, nên kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô gắn bó chặt chẽ với nhau. Khi nghiên cứu nền kinh tế với tư cách một tổng thể, chúng ta phải xem xét quyết định của các chủ thể cá biệt. Ví dụ, để hiểu được yếu tố nào quyết định tổng mức chi tiêu của người tiêu dùng, chúng ta phải suy nghĩ về cách thức một gia đình quyết định mức chi tiêu hiện tại và tiết kiệm bao nhiêu cho tương lai. Để hiểu được yếu tố nào quyết định tổng chi tiêu cho đầu tư, chúng ta phải nghĩ về cách thức một doanh nghiệp quyết định có nên xây dựng một nhà máy mới hay không. Do các biến số tổng hợp chỉ là tổng các biến số mô tả các quyết định cá biệt, cho nên kinh tế vĩ mô đương nhiên phải được xây dựng trên cơ sở kinh tế vi mô.

Mặc dù các quyết định kinh tế vi mô luôn luôn là cơ sở cho các mô hình kinh tế, nhưng trong nhiều mô hình, hành vi tối ưu hóa của các hộ gia đình và doanh nghiệp chỉ mang tính ngầm định, chứ không thể hiện một cách rõ ràng. Mô hình về thị trường bánh mì: quyết định của các hộ gia đình về việc nên mua bao nhiêu bánh mì là cơ sở cho mức cầu về bánh mì, còn quyết định của những người sản xuất bánh mì về việc nên sản xuất bao nhiêu bánh mì là cơ sở cho mức cung về bánh mì. Theo giả định, các hộ gia đình đưa ra quyết định để tối ưu hóa lợi ích, còn người sản xuất bánh mì đưa ra quyết định để tối đa hóa lợi nhuận. Nhưng mô hình không tập trung nghiên cứu những quyết định kinh tế vi mô này. Tương tự như vậy, trong nhiều công trình nghiên cứu của kinh tế vĩ mô, hành vi tối ưu hóa của các hộ gia đình và doanh nghiệp chỉ có tính chất ngầm định.

Theo N. Gregory Mankiw, Kinh tế vĩ mô, bản dịch tiếng Việt, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội.

Kinh tế học : Vai trò của kinh tế vi mô trong kinh tế vĩ mô

Kinh tế học : Đầu tư là gì ?

0 nhận xét

Khái niệm đầu tư đôi khi gây ra sự lẫn lộn đối với những người mới tiếp xúc với môn kinh tế vĩ mô. Sự lẫn lộn nảy sinh vì cái có vẻ là đầu tư của cá nhân lại không phải là đầu tư của nền kinh tế với tư cách là một tổng thể.


Giả sử chúng ta quan sát thấy hai sự kiện sau đây: 
§  Ông Smith mua một căn nhà xây dựng 100 năm trước đây ở đại lộ Victoria 
§  Bà Jones xây dựng một ngôi nhà hiện đại mới toanh.

Tổng đầu tư ở đây là bao nhiêu? Một ngôi nhà, hai ngôi nhà hay không có ngôi nhà nào cả?

Khi quan sát 2 giao dịch này, các nhà kinh tế vĩ mô chỉ tính ngôi nhà của bà Jones vào đầu tư. Giao dịch của ông Smith không tạo ra ngôi nhà mới cho nền kinh tế, nó chỉ tái phân phối ngôi nhà hiện có. Việc mua nhà của ông Smith là đầu tư đối với ông Smith, nhưng lại là sự cắt giảm đầu tư của người  bán ngôi nhà. Ngược lại, bà Jones đã bổ sung thêm một ngôi nhà mới cho nền kinh tế, ngôi nhà mới của bà được gọi là đầu tư.

    Tương tự như vậy, chúng ta hãy xem xét 2 sự kiện sau:  
§ Merill mua của Lynch 5 triệu đôla cổ phiếu IBM trên thị trường chứng khoán Lynch Niu Oóc.
§ General Motor bán 10 triệu đôla cổ phiếu cho công chúng và sử dụng số tiền đó để xây dựng một nhà máy ôtô mới.
Ở đây, đầu tư là 10 triệu đôla. Trong giao dịch thứ nhất, Merill đầu tư vào cổ phiếu IBM, còn Lynch giảm đầu tư, không có sự đầu tư nào trong nền kinh tế cả. Ngược lại, General Motor sử dụng một phần sản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế để bổ sung vào khối lượng tư bản của mình; bởi vậy nhà máy mới của nó được coi là đầu tư.

Quy tắc chung là những  hành vi mà chỉ tái phân phối tài sản hiện có giữa các cá nhân không được coi là đầu tư với nền kinh tế. Khái niệm đầu tư trong kinh tế vĩ mô gắn với việc tạo ra tư bản mới.


Theo N. Gregory Mankiw, Kinh tế vĩ mô, bản dịch tiếng Việt, nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội. 

Kinh tế học : Đầu tư là gì ?

Thứ Hai, 21 tháng 3, 2011

Kinh tế học : Lý thuyết về cơ cấu đầu tư là gì?

0 nhận xét
Các nhà kinh tế là nguồn cảm hứng cho tài chính hiện đại
Lý thuyết về cơ cấu đầu tư là trọng tâm của một trong những lĩnh vực sôi động và phổ biến nhất của kinh tế học bậc trung: tiền tệ và ngân hàng. Phân tích này sử dụng một khung lý thuyết giống như lý thuyết thỏa dụng. Nó giả định rằng, mọi người đều thích thu được lợi nhuận cao từ các tài sản nhưng lại không thích những tài sản nhiều rủi ro.
Công trình của hai nhà bác học được giải thưởng Nobel là Harry Markowits vàJames Tobin đã chứng tỏ rằng, những người tiêu dùng tối đa hóa thỏa dụng của mình sẽ dàn trải của cải của họ (đa dạng hóa cơ cấu đầu tư) vào nhiều tài sản có độ rủi ro khác nhau.
 
 William F. Sharpe
Nguồn: http://www.frdelpino.es/
  
Những nghiên cứu trong lĩnh vực này đã trở nên hết sức quan trọng trong lý thuyết tài chính hiện đại và được thể hiện dưới hình thức hiện đại của nó trong nghiên cứu về “Mô hình định giá tài sản vốn”, công trình mà nhờ đó William Sharpe đã giành được giải thưởng Nobel về kinh tế học năm 1990. Tất cả các nhà quản lý cơ cấu đầu tư giỏi của Phố Wall dùng những kĩ thuật này để luyện trực giác của mình trong việc lựa chọn cố phiếu và trái phiếu đầu tư.

Theo Paul A. Samuelson, Wiliam D. Nordhalls. 1948. Kinh tế học. Bản dịch tiếng Việt. 2007. Nhà xuất bản Tài Chính.

Kinh tế học : Lý thuyết về cơ cấu đầu tư là gì?

Kinh tế học : Lạm phát không là hiện tượng tiền tệ - Quan điểm của trường phái Keynes mới

0 nhận xét

Các nhà lý thuyết trong trường phái Tân cổ điển (Neo - Classical), Tiền tệ (Monetarism) và cả Cổ điển mới (New Classical) đều có một giả định chung rằng thị trường là cân bằng một cách liên tục (continuous market – clearing). Cơ sở của giả định này là dựa vào tốc độ điều chỉnh của giá và lượng trong nền kinh tế có thể diễn ra rất nhanh. Tuy nhiên, tất cả họ đều bỏ qua một khả năng khác là sự điều chỉnh luôn có độ trễ bởi có yếu tố cứng nhắc (rigidity) trong tiền lương và mức giá ở ngắn hạn. 

Nguồn: http://i.dailymail.co.uk

 Những nhà kinh tế sử dụng tính chất này để tấn công giả định trên gọi là trường phái Keynes mới (New Keynesian). Những đại diện cho trường phái này là George Akerlof, Janet Yellen, Josheph E. Stiglitz, Robert J. Jordon, John B. Taylor, N. Gregory Mankiw, Guillermo Calvo, Olivier Blanchard và Julio Rotemberg.
Họ đã sử dụng những công cụ kinh tế vi mô nhằm bảo vệ các giả định chính thống của Keynes như giá và tiền lương là cố định trong ngắn hạn cũng như phản bác lại thị trường là có sự cân bằng liên tục.

Kết luận của nhóm này vẫn đồng ý rằng trong dài hạn, lạm phát là một hiện tượng tiền tệ, song trong ngắn hạn không phải lúc nào giá cả cũng biến động ngay khi có các cú sốc về phía cầu. Bởi việc thay đổi giá một cách liên tục có thể tạo ra chi phí mà họ gọi là chi phí thực đơn (menu cost). Và ngay cả có sự thay đổi giá đi chăng nữa thì các cá nhân cũng không thay đổi nó một cách cùng lúc (non – synchronized) và vì thế giá cả thường ổn định trong ngắn hạn.

Theo Nguyễn Trọng Hoài, Nguyễn Hoài Bảo (2009), Lạm phát ở Việt Nam: Lý thuyết và kiểm chứng thực nghiệm mô hình P-Star, Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội.

Kinh tế học : Lạm phát không là hiện tượng tiền tệ - Quan điểm của trường phái Keynes mới

Thứ Tư, 2 tháng 3, 2011

Kinh tế học : Siêu lạm phát ở Zimbabwe

0 nhận xét

Tình hình siêu lạm phát ở Zimbabwe hiện nay còn vượt xa Đức.

Kinh tế học : Siêu lạm phát ở Zimbabwe

Vào những năm 1980 Zimbabwe là nước giàu có của châu Phi. Một đô Zimbabwe lúc bấy giờ có giá trị tương đương với 1 đôla Mỹ. Nhưng đến tháng 7/2008 thì tỷ giá chính thức mà ngân hàng công bố là 20 tỷ đôla Zimbabwe / đôla Mỹ; còn tỷ giá ở thị trường chợ đen là 90 tỷ đôla Zimbabwe/đôla Mỹ!
Ngân hàng liên tục phát hành giấy bạc mệnh giá cao, tháng 1/2008 phát hành giấy bạc mệnh giá 20 triệu đôla, đến 21/7/2008 phát hành giấy bạc mệnh giá 100 tỷ đôla.

Giá một quả trứng là 7.5 tỷ đôla Zimbabwe; 1kg bắp giá 15 tỷ đôla Zimbabwe. Thu nhập của một nhân viên bán hàng là 15 tỷ đôla Zimbabwe /tháng chỉ đủ mua 20 quả trứng!
Các doanh nghiệp chỉ hoạt động cầm chừng dưới 30% công suất, tỷ lệ thất nghiệp đến 80%!

Theo TS. Nguyễn Như Ý, ThS. Trần Thị Bích Dung. 2009. Kinh tế vĩ mô. Nhà xuất bản Thống Kê.

Kinh tế học : Siêu lạm phát ở Zimbabwe

Thứ Hai, 28 tháng 2, 2011

Kinh tế học : Siêu lạm phát ở nước cộng hòa Weimar của Đức vào những năm 1920

0 nhận xét

Siêu lạm phát đặc biệt thú vị đối với những nhà nghiên cứu lạm phát do nó làm sáng tỏ những tác động hủy diệt của lạm phát. 
Hãy xem những lời mô tả lạm phát của phe Liên Bang trong thời Nội chiến (Mỹ):
Trước đây chúng tôi đã từng đi đến cửa hàng với tiền trong túi và trở về nhà với hàng hóa trong giỏ. Bây giờ, chúng tôi đi để tiền trong giỏ và trở về với hàng hóa trong túi. Mọi thứ đều khan hiếm, trừ mỗi tiền! Giá cả đảo lộn và sản xuất vô tổ chức. Một bữa ăn sáng trước kia vốn chỉ đắt bằng tiền vé một buổi xem nhạc kịch, giờ đây đã đắt gấp 20 lần. Mọi người đều muốn tích trữ “mọi thứ” và tìm cách đẩy đi những tờ tiến giấy “ tồi tệ” đã từng đuổi những đồng tiền kim loại “đẹp đẽ” ra khỏi lưu thông. Kết quả là quay trở về với một phần của sự bất tiện của trao đổi bằng hiện vật.


 Một trường hợp được ghi nhận chi tiết nhất về siêu lạm phát là ở nước cộng hòa Weimar của Đức vào những năm 1920. [...]
Từ tháng giêng 1922 đến tháng 11 năm 1923, chỉ số giá tăng từ 1 lên 10.000.000.000. Nếu một người sở hữu trái phiếu Đức trị giá 300 triệu đô la vào đầu năm 1922, thì hai năm sau, số tiền này không mua nổi một cái kẹo.

Các nghiên cứu đã phát hiện ra nhiều đặc điểm thường gặp của siêu lạm phát.
Thứ nhất, cầu thực tế về tiền (đo bằng trữ lượng tiền chia cho mức giá) giảm mạnh. Vào cuối thời kỳ siêu lạm phát của Đức, cầu tiền thực tế chỉ bằng một phần năm mươi mức cầu hai năm trước hàng đó. Mọi người gần như phát điên lên, vứt bỏ tiền của mình thể đó là củ khoai tây nóng bỏng trước khi họ chất bỏng vì đồng tiền mất giá.
Thứ hai, giá tương đối trở nên rất không ổn định. Trong điều kiện bình thường, tiền lương thực tế của một người chỉ xê dịch không quá 1% hàng tháng. Trong thời gian năm 1923, tiền lương thực tế của Đức thay đổi trung bình một phần ba (lên hoặc xuống) mỗi tháng. Sự thay đổi lớn này của lương thực tế và giá tương đối – cùng những bất bình đẳng và bóp méo do những biến động này gây ra – đã gây ra gánh nặng rất lớn cho công nhân và doanh nghiệp, bộc lộ rõ một trong những chi phí lớn của lạm phát.
[...]
Có lẽ một trong những ảnh hưởng rõ rệt nhất của siêu lạm phát là về sự phân phối của cải. Nhà kinh tế học người Anh là Lionel Robbins đã tổng kết những tác động đó:
Sự phá giá của đồng Mác.. đã phá hủy tài sản của những thành phần vững chắc trong xã hội Đức; nó để lại đằng sau những mất cân đối kinh tế và tinh thần, tạo tiền đề cho các thảm họa theo sau. Hitler là đứa con nuôi của lạm phát.

Theo Paul A Samuelson, Wiliam D. Nordhalls. 1948. Kinh tế học. Bản dịch tiếng Việt. 2007. Nhà xuất bản Tài Chính.

Kinh tế học : Siêu lạm phát ở nước cộng hòa Weimar của Đức vào những năm 1920

Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010

Kinh tế học : Cách tính Tổng sản phẩm quốc nội GDP như thế nào?

0 nhận xét
GDP (Tổng sản phẩm quốc nội hay Tổng sản phẩm nội địa) có thể được tính theo ba phương pháp sau:
+ Phương pháp sản xuất
+ Phương pháp chi tiêu
+ Phương pháp thu nhập


Phương pháp sản xuất
GDP = VAa + VAi + VAs + VAk
Với:
VA = GO - CPTG
VA (Value added) : giá trị gia tăng
GO (Gross output) : tổng giá trị sản lượng đầu ra hay tổng xuất lượng, là toàn bộ giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ mà một nền kinh tế có thể sản xuất ra được trên lãnh thổ của mình trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
GO = P1xQ1 + P2xQ2 + P3xQ3 + ... + PnxQn
(P là kí hiệu cho giá hàng hóa, Q là số lượng)
CPTG : chi phí trung gian, là chi phí cho hàng hóa và dịch vụ trung gian - là những hàng hóa và dịch vụ dùng làm đầu vào cho quá trình sản xuất ta hàng hóa, dịch vụ khác và được sử dụng hết một lần cho quá trình đó
VAa (agricultural) : giá trị gia tăng khu vực nông nghiệp (bao gồm nông, lâm, ngư, thủy hải sản, khai khoáng, thủ công nghiệp)
VAi (industrial) : giá trị gia tăng khu vực công nghiệp
VAs (service) : giá trị gia tăng khu vực dịch vụ
VAk (knowledge and information) : giá trị gia tăng khu vực thông tin và chất xám (hay kinh tế tri thức)
Phương pháp chi tiêu
GDP = C + I + G + X - M
Với:
C : chi tiêu tiêu dùng thực tế của hộ gia đình
I : chi tiêu đầu tư tư nhân
G : chi tiêu thực tế của chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ
X : xuất khẩu
M : nhập khẩu
Phương pháp thu nhập
GDP = w + i + r + Pr + Ti + De
Trong đó:
w (wage) : tiền lương
i (interest rate) : tiền lãi
r (rent) : tiền cho thuê mặt bằng, máy móc hay phát minh khoa học
w, i, r là thu nhập của khu vực hộ gia đình
Pr (Profit) : lợi nhuận (trước thuế thu nhập) của doanh nghiệp
Ti (Tax inditect) : thuế gián thu, như thuế VAT, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt...
De (Depreceation) : khấu hao, là khoản tiền được trích để hình thành quỹ tại doanh nghiệp, mục đích là để sửa chữa máy móc, nhà xưởng...

Theo bài giảng của Ts. Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư
GV Khoa Kinh tế phát triển, ĐH Kinh tế TP HCM

Kinh tế học : Cách tính Tổng sản phẩm quốc nội GDP như thế nào?

Thứ Bảy, 16 tháng 10, 2010

Kinh tế học : Cách tính Tổng sản phẩm quốc nội GDP như thế nào?

0 nhận xét
Kinh tế học : Cách tính Tổng sản phẩm quốc nội GDP như thế nào?
GDP (Tổng sản phẩm quốc nội hay Tổng sản phẩm nội địa) có thể được tính theo ba phương pháp sau:
+ Phương pháp sản xuất
+ Phương pháp chi tiêu
+ Phương pháp thu nhập


Phương pháp sản xuất
GDP = VAa + VAi + VAs + VAk
Với:
VA = GO - CPTG
VA (Value added) : giá trị gia tăng
GO (Gross output) : tổng giá trị sản lượng đầu ra hay tổng xuất lượng, là toàn bộ giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ mà một nền kinh tế có thể sản xuất ra được trên lãnh thổ của mình trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)
GO = P1xQ1 + P2xQ2 + P3xQ3 + ... + PnxQn
(P là kí hiệu cho giá hàng hóa, Q là số lượng)
CPTG : chi phí trung gian, là chi phí cho hàng hóa và dịch vụ trung gian - là những hàng hóa và dịch vụ dùng làm đầu vào cho quá trình sản xuất ta hàng hóa, dịch vụ khác và được sử dụng hết một lần cho quá trình đó
VAa (agricultural) : giá trị gia tăng khu vực nông nghiệp (bao gồm nông, lâm, ngư, thủy hải sản, khai khoáng, thủ công nghiệp)
VAi (industrial) : giá trị gia tăng khu vực công nghiệp
VAs (service) : giá trị gia tăng khu vực dịch vụ
VAk (knowledge and information) : giá trị gia tăng khu vực thông tin và chất xám (hay kinh tế tri thức)
Phương pháp chi tiêu
GDP = C + I + G + X - M
Với:
C : chi tiêu tiêu dùng thực tế của hộ gia đình
I : chi tiêu đầu tư tư nhân
G : chi tiêu thực tế của chính phủ cho hàng hóa và dịch vụ
X : xuất khẩu
M : nhập khẩu
Phương pháp thu nhập
GDP = w + i + r + Pr + Ti + De
Trong đó:
w (wage) : tiền lương
i (interest rate) : tiền lãi
r (rent) : tiền cho thuê mặt bằng, máy móc hay phát minh khoa học
w, i, r là thu nhập của khu vực hộ gia đình
Pr (Profit) : lợi nhuận (trước thuế thu nhập) của doanh nghiệp
Ti (Tax inditect) : thuế gián thu, như thuế VAT, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt...
De (Depreceation) : khấu hao, là khoản tiền được trích để hình thành quỹ tại doanh nghiệp, mục đích là để sửa chữa máy móc, nhà xưởng...

Theo bài giảng của Ts. Trần Nguyễn Ngọc Anh Thư
GV Khoa Kinh tế phát triển, ĐH Kinh tế TP HCM

Hỗ trợ online

Kinh doanh 1

0935.194.194


Kinh doanh 2

0963.819.625